Căng thẳng thương mại Mỹ

 

 

Công ty cổ phần Chứng khoán Đầu tư Việt Nam – IVS cho biết, Việt Nam hiện là một trong 10 nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới với kim ngạch xuất khẩu năm 2017 đạt khoảng 31 tỷ USD (Tổng cục Thống kê). Hiện nay sản phẩm dệt may Việt Nam được xuất khẩu đến các thị trường chính bao gồm Mỹ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung leo thang, cơ hội cho ngành dệt may Việt Nam - Ảnh 1.

Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của dệt may Việt Nam. Năm 2018, dự kiến kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này sẽ tăng khoảng 8 – 10%, ước đạt trên 13 tỉ đô la Mỹ, chiếm trên 38% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may. Trong khi đó, Việt Nam là quốc gia có quy mô thứ hai về xuất khẩu dệt may vào Mỹ. Tiếp đến, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc là 3 thị trường tiếp theo đóng vai trò quan trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam. Bên cạnh các thị trường trên, ASEAN cũng đang là thị trường được kỳ vọng tăng trưởng mạnh nhờ được hưởng ưu đãi thuế quan giữa các nước trong cộng đồng kinh tế ASEAN.

Theo IVS, nhìn về nội lực của doanh nghiệp Việt Nam, thì nhóm dệt may mới chính là nhóm có kinh nghiệm, năng lực sản xuất và tạo ra thương hiệu cạnh tranh được trên thế giới. Căng thẳng thương mại Mỹ – Trung leo thang đi cùng với sự chậm lại của các nền kinh tế lớn đang khiến cho thương mại quốc tế sẽ chứng kiến sự giảm sút. Nhưng không như các ngành xuất khẩu khác, ngành Dệt may Việt Nam thuộc một trong số ít các nhóm mà lợi ích nhận được từ việc chuyển dịch sản xuất từ Trung Quốc sẽ vượt qua các ảnh hưởng tiêu cực từ sự suy giảm trong thương mại toàn cầu. Chính phủ Việt Nam cũng luôn có các chính sách và định hướng hỗ trợ cho ngành, thể hiện kết quả ở các hiệp định thương mại tự do được Việt Nam ký kết với nhiều thị trường quan trọng của ngành. Nhóm dệt may niêm yết hiện tại có nhiều doanh nghiệp nằm trong nhóm tiềm năng của ngành và có thực lực để nắm bắt cơ hội đến từ các FTAs.

Dệt may là một trong những ngành xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam, có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ hai với giá trị xuất khẩu đóng góp từ 10%-15% vào GDP. 9 tháng đầu năm, tổng giá trị xuất khẩu dệt may đạt 22,561 tỷ USD, xếp thứ 2 trong nhóm các hàng hóa xuất khẩu, xếp sau giá trị xuất khẩu các sản phẩm điện thoại, linh kiện (giá trị 36,127 tỷ USD).Tính chung 9 tháng đầu năm, giá trị xuất khẩu sản phẩm dệt may tăng trưởng 17,1% so với cùng kỳ năm trước.

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 8 tháng đầu năm, Mỹ vẫn là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất từ Việt Nam với trị giá đạt 9,11 tỷ USD, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 46,1% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước. Tiếp theo lần lượt là thị trường EU (28 nước) tiêu thụ 2,76 tỷ USD, tăng 11.7% so với cùng kỳ năm; thị trường Nhật Bản tiêu thụ 2,47 tỷ USD, tăng 25,8% so với cùng kỳ năm.

Điều đó cho thấy, những thị trường xuất khẩu trọng điểm như Mỹ, các nước khối CPTPP, EU, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN… đều tăng trưởng mạnh với tốc độ tăng trưởng vượt trội so với cùng kỳ năm 2017. Đáng chú ý, dệt may Việt Nam cũng đạt kết quả đáng kể về tăng trưởng so với các quốc gia dẫn đầu về xuất khẩu như Trung Quốc, Ấn Độ và Bangladesh.

Đã có sự chuyển dịch về số lượng đơn đặt hàng từ Trung Quốc sang Việt Nam. Có thể thấy, tổng giá trị xuất khẩu của Trung Quốc giảm gần bằng mức tăng xuất khẩu của Việt Nam trong năm ngoái (~ 3 tỷ USD).

IVS cho hay, nhờ các hiệp định FTA được ký kết trong những năm gần đây, giá trị xuất khẩu các sản phẩm dệt may của Việt Nam tăng trưởng mạnh. Cụ thể, tốc độ tăng trưởng năm 2016 là 4,44% và 2017 là 9,31%. Đáng chú ý, tác động tích cực của các hiệp định ASEAN-India FTA, KV FTA và đặc biệt là CPTPP ký kết tháng 3 năm nay nâng kỳ vọng giá trị xuất khẩu năm nay đạt 34-35 tỷ USD, tương ứng với tốc độ tăng trưởng trên 30%.

Bên cạnh đó, tính đến năm 2017, các doanh nghiệp FDI tuy chỉ chiếm 25% về số lượng nhưng đóng góp đến 62% vào kim ngạch xuất khẩu may mặc của Việt Nam, trong đó xơ, sợi chiếm72%, vải và may mặc chiếm hơn 60%. Nguồn vốn đầu tư FDI đổ vào lĩnh vực dệt may vẫn không ngừng tăng lên trong những năm gần đây, chủ yếu nhờ vào tiềm năng tăng trưởng của thị trường, đặc biệt sau một loạt các hiệp định thương mại được ký kết. Thống kê cho thấy, đầu tư FDI vào dệt may tính đến hết năm 2017 là 2.091 dự án, với tổng vốn đăng ký và tăng thêm là 15,89 tỷ USD. Có 52 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào ngành dệt may Việt Nam, trong đó một số quốc gia và vùng lãnh thổ có vốn đăng ký lớn như Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông… Riêng 6 tháng đầu năm 2018, dệt may Việt Nam đã thu hút được 2,8 tỷ USD từ nguồn vốn FDI, đưa lũy kế đầu tư nước ngoài vào ngành đạt 17,5 tỷ USD.

Trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ-Trung leo thang như hiện nay, IVS cho rằng, ngành dệt may Việt Nam sẽ có cơ hội được hưởng lợi như từng bước mở rộng và gia tăng thị phần xuất khẩu sang Mỹ nhờ mức giá cạnh tranh hơn. Tuy nhiên, tác động tích cực này được đánh giá sẽ phát huy trong dài hạn. Đồng NDT mất giá mạnh so với USD, qua đó cũng mất giá so với VND. Trong khi đó, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu nguyên phụ liệu lớn nhất của Việt Nam. Việc NDT mất giá do đó tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam nhập được nguồn nguyên liệu với chi phí rẻ hơn.

Với những tiềm năng tăng trưởng như hiện nay, Hiệp hội Dệt may Việt Nam dự kiến kim ngạch xuất khẩu dệt may cả năm 2018 sẽ đạt 35 tỷ USD, vượt 1 tỷ USD so với kế hoạch, đây là mức tăng trưởng cao nhất trong 5 năm qua. Tuy nhiên, ngành dệt may Việt Nam vẫn còn phải đối mặt với một số thách thức liên quan đến quy tắc xuất xứ cũng như khả năng cạnh tranh từ các thị trường khác như Bangladesh, Pakistan, hay Cambodia.

Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung leo thang, cơ hội cho ngành dệt may Việt Nam - Ảnh 2.

Cụ thể, trong số 10 hiệp định FTA Việt Nam đã đàm phán, CPTPP thì EVFTA có xuất xứ chặt chẽ nhất. Trong đó, CPTPP yêu cầu quy tắc xuất xứ từ sợi và EVFTA yêu cầu xuất xứ từ vải. Với tình trạng phát triển lệch của dệt may Việt Nam hiện nay, việc đáp ứng các quy tắc xuất xứ từ 2 FTA này là khó nhưng đây lại là điều kiện bắt buộc để các doanh nghiệp trong ngành có thể hưởng lợi.

Mặt hàng dệt may, gia công chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong khi đó nguyên phụ liệu như vải, xơ, sợi vẫn chưa tự sản xuất được và phải nhập khẩu từ nước ngoài.

Bộ trưởng Công thương Trần Tuấn Anh nói gì về các dự án bauxite ở Tây Nguyên?

Trả lời chất vấn của đại biểu về hiệu quả các dự án bauxite ở Tây Nguyên, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho biết hiện đang thực hiện thí điểm 2 dự án tại Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đăk Nông). Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) là đơn vị được giao triển khai đầu tư.

Dự án alumin Tân Rai bắt đầu được đầu tư xây dựng từ năm 2006 và Dự án alumin Nhân Cơ được đầu tư xây dựng từ năm 2007.

Đến nay, Dự án alumin Tân Rai đã đi vào vận hành thương mại từ tháng 10/2013. Dự án đã sản xuất ổn định. Cụ thể năm 2017 cho ra 636,7 ngàn tấn alumin, đạt công suất vận hành theo cam kết của nhà thầu, tức 630 ngàn tấn/năm. Còn năm 2018 dự kiến sẽ đạt sản lượng 650 ngàn tấn alumin, đạt công suất thiết kế.

Đối với Dự án alumin Nhân Cơ, ngày 16/12/2016, nhà máy đã có sản phẩm alumin đầu tiên và ngày 1/7/2017 nhà máy chính thức đưa vào vận hành thương mại. Về sản lượng, năm 2017 đạt 501 ngàn tấn alumin, đạt 77% công suất thiết kế. Còn theo kế hoạch năm 2018 sản lượng sẽ đạt 580.000 tấn alumin, năm 2019 sẽ đạt công suất thiết kế là 650.000 tấn alumin.

Theo Bộ trưởng, mặc dù thời gian các dự án đi vào hoạt động chưa dài – Tân Rai 5 năm và Nhân Cơ gần 2 năm, nhưng qua quá trình vận hành sản xuất cho thấy việc sản xuất ở các nhà máy ổn định, sản phẩm đầu ra đạt chất lượng tốt, các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm, tiêu hao nguyên vật liệu, năng lượng đã đạt được theo thiết kế, một số chỉ tiêu đạt cao hơn so với thiết kế.

Các hạng mục công trình của dự án đã được đầu tư đồng bộ, đặc biệt là các hạng mục liên quan đến công tác xử lý bùn đỏ, bảo vệ môi trường. Các vấn đề về môi trường, xã hội, an ninh, quốc phòng… theo mục tiêu đề ra được bảo đảm.

Ông cũng nhấn mạnh thời gian qua gặp thuận lợi về thị trường. Trong năm gần đây và hiện nay giá bán alumin trên thị trường khả quan. Cụ thể, giá trung bình năm 2017 là 344 USD/tấn (FOB), bình quân 8 tháng đầu năm 2018 là 480 USD/tấn, có thời điểm tháng 4 năm 2018 giá alumin lên đến 672 USD/tấn.

Bộ trưởng cho biết đây là mức giá tốt so với phương án tính toán ban đầu để bảo đảm hiệu quả đầu tư của dự án. Do vậy, hoạt động sản xuất kinh doanh của 2 dự án tới thời điểm này khá thuận lợi và ổn định, sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng và thị trường tiêu thụ chấp nhận tốt. Đến nay TKV đã cấp alumin/hydrat đến các thị trường Trung Đông, Ấn Độ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan…

Bên cạnh đó, điểm tích cực là sau một thời gian ngắn, Việt Nam đã nhanh chóng làm chủ được công nghệ, chủ đầu tư đã có và tiếp tục các giải pháp cải tiến kỹ thuật công nghệ, hợp lý hóa dây chuyền sản xuất, nâng cao sản lượng sản xuất nhờ đó giá thành sản phẩm alumin giảm đáng kể giá thành sản xuất năm sau thấp hơn năm trước.

“Việc 2 dự án bauxite đi vào hoạt động đã tạo năng lực sản xuất mới mới để đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của đất nước nói chung và vào sự phát triển kinh tế – xã hội khu vực Tây Nguyên và 2 tỉnh Đăk Nông và Lâm Đồng nói riêng”, Bộ trưởng nói.

Nói thêm về mục tiêu tổng thể trong xây dựng dự án bauxite, Bộ trưởng cho biết không đơn thuần ở khai thác, chế biến alumin xuất khẩu, mà còn là tổ hợp dự án lớn và được phân kỳ đầu tư theo từng giai đoạn.

Theo đó, giai đoạn đầu là triển khai xây dựng 2 dự án alumin, kế tiếp sẽ thực hiện dự án điện phân nhôm. Tuy nhiên, dự án điện phân nhôm chỉ được triển khai trên cơ sở đánh giá lại kết quả thực hiện 2 nhà máy ở Tân Rai và Nhân Cơ.

Hiện Bộ Công Thương đang lấy ý kiến các bộ ngành liên quan, địa phương để có đánh giá toàn diện, tổng thể hiệu quả dự án trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, an ninh, chính trị… Dự kiến việc tổng kết sẽ kết thúc vào cuối năm 2018, sau đó Bộ Công Thương xin ý kiến cấp có thẩm quyền chủ trương đầu tư tiếp theo.

Chuyện “hôm qua” nhưng… vẫn là chuyện “hôm nay”

Cũng giống như các ngành công nghiệp hỗ trợ khác, công nghiệp hỗ trợ trong lĩnh vực ôtô dù liên tục được “điểm mặt, đặt tên” ở rất nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển từ nhiều năm nay nhưng đến giờ ngành công nghiệp này vẫn “giậm chân tại chỗ”.

Hội thảo “Phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành ôtô: Tác động của chính sách, các rào cản và giải pháp” do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức ngày 30/10, theo bà Nguyễn Thị Tuệ Anh, Viện phó CIEM là chủ đề không mới nhưng chưa bao giờ là vấn đề hết tính thời sự.

Sức cạnh tranh của doanh nghiệp còn yếu

Bởi theo bà Tuệ Anh, dù trong suốt nhiều năm qua, ngành công nghiệp hỗ trợ được sự quan tâm của Chính phủ, nhưng công nghiệp hỗ trợ ngành ôtô trong nước vẫn chưa phát triển, tỷ lệ nội địa hoá trong ngành còn thấp, chưa đạt được mục tiêu đề ra.

Số liệu thống kê của Bộ Công Thương cho thấy, cả nước có 358 doanh nghiệp sản xuất liên quan đến ôtô; trong đó, có 50 doanh nghiệp lắp ráp ôtô; 45 doanh nghiệp sản xuất khung gầm, thân xe, thùng xe; 214 doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng ôtô…

“Tỷ lệ này là quá thấp so với 385 doanh nghiệp ở Malaysia và 2.500 doanh nghiệp ở Thái Lan về sản xuất linh kiện phụ tùng ôtô”, ông Lương Đức Toàn, Phó trưởng Phòng Công nghiệp chế biến-chế tạo, Cục Công nghiệp – Bộ Công Thương, nhận định.

Theo ông Toàn, công nghiệp hỗ trợ ngành sản xuất, lắp ráp ôtô ở Việt Nam mới chỉ sản xuất được một số nhóm linh kiện, phụ tùng như chi tiết cấu thành khung gầm xe, thùng xe, vỏ cabin, cửa xe, săm lốp, bộ tản nhiệt, dây phanh… Ngoài ra, đầu tư cho sản xuất linh kiện, phụ tùng ôtô còn mang tính nhỏ lẻ, sản phẩm làm ra ít cả về chủng loại và sản lượng. Sức cạnh tranh quốc tế của công nghiệp hỗ trợ ngành sản xuất, lắp ráp ôtô còn hạn chế, nhất là sản phẩm của doanh nghiệp nội địa.

Cụ thể, theo báo cáo của Bộ Công Thương, đối với các chủng loại xe tải, xe khách từ 10 chỗ ngồi trở lên, xe chuyên dụng sản xuất trong nước đã đạt tỷ lệ nội địa hoá cao, đáp ứng về cơ bản cụ thể, xe tải 7 tấn đã đáp ứng khoảng 70% nhu cầu với tỷ lệ nội địa hoá trung bình 55%; xe khách từ 10 chỗ ngồi trở lên, một số loại xe chuyên dụng đáp ứng khoảng 90% nhu cầu tỷ lệ nội địa hoá đạt từ 45-55%.

Tuy nhiên, phụ tùng, linh kiện chủ yếu được sản xuất và nhập khẩu từ doanh nghiệp FDI, tỷ lệ đặt hàng phụ tùng linh kiện do doanh nghiệp nội địa cung cấp rất thấp. Trong số các doanh nghiệp cung cấp hiện có, hơn 90% là doanh nghiệp FDI, chỉ có số ít doanh nghiệp trong nước có thể tham gia vào mạng lưới của doanh nghiệp cung cấp cho các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp ôtô ở Việt Nam.

Hướng tới mục tiêu lớn

Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 đặt ra mục tiêu cơ bản hình thành công nghiệp hỗ trợ cho sản xuất ôtô vào năm 2020; sản xuất một số chi tiết quan trọng như động cơ, hộp số xe tải, xe khách và bước đầu tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của ngành công nghiệp ôtô thế giới giai đoạn 2021-2025. Đến năm 2035, phấn đấu trở thành nhà cung cấp quan trọng trong nhiều loại linh kiện, phụ tùng cho ngành công nghiệp ôtô khu vực và thế giới; đáp ứng trên 65% nhu cầu về linh kiện, phụ tùng cho sản xuất lắp ráp ôtô trong nước.

Tuy vậy, hướng tới mục tiêu này là không hề dễ dàng. Ông Shinjiro Kajikawa, Phó giám đốc Toyota Việt Nam cho biết, thị trường ôtô tại Việt Nam chưa có sự ổn định, sản lượng vẫn ở mức thấp nên việc nội địa hoá và hệ thống nhà cung cấp ở Việt Nam còn rất hạn chế khi 90% là nhập khẩu. “Do sản lượng nhỏ và tỷ lệ nội địa hoá thấp nên chi phí sản xuất xe ở Việt Nam đang cao hơn xe nhập khẩu nguyên chiếc từ các nước ASEAN khoảng từ 10-20%”, ông Shinjiro nhận định.

Cùng quan điểm, ông Toàn cho rằng, nguyên nhân chủ yếu là do dung lượng thị trường nội địa hạn chế. Thị trường nhỏ, bị phân tán bởi nhà lắp ráp và nhiều model khác nhau khiến cho các công ty sản xuất (cả sản xuất và lắp ráp ôtô và sản xuất linh kiện phụ tùng) rất khó đầu tư, phát triển sản xuất hàng loạt, các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ chưa đủ khả năng tiếp cận các chuỗi sản xuất ôtô ở nước ngoài.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp chưa tạo được sự hợp tác liên kết và chuyên môn hoá trong sản xuất- lắp ráp ôtô và sản xuất phụ tùng linh kiện; đồng thời, chưa hình thành được hệ thống các nhà cung cấp nguyên vật liệu và sản xuất linh kiện quy mô lớn…

Để đạt những mục tiêu trên cũng như thúc đẩy ngành công nghiệp hỗ trợ sản xuất ôtô phát triển, ông Phạm Tuấn Anh, Đại học Thương mại cho rằng, cần rà soát chiến lược công nghiệp hỗ trợ thật tốt, bám sát với chuỗi giá trị sản xuất. Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý đáp ứng yêu cầu của các chuỗi sản xuất toàn cầu trong quản trị doanh nghiệp và sản xuất.

Trên cơ sở đó, có chính sách thu hút để doanh nghiệp có thể tham gia vào từng công đoạn của chuỗi, mức độ đóng góp của doanh nghiệp Việt Nam sẽ mạnh hơn. Mặt khác, tăng cường đầu tư, liên doanh, liên kết nhằm mở rộng quy mô cho các nhà cung cấp trong nước có thể đáp ứng tiêu chuẩn yêu cầu về chất lượng, chi phí, giao hàng để bảo đảm khả năng tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Đà Nẵng kiểm tra 47 DN du lịch sử dụng lao động nước ngoài

UBND TP Đà Nẵng vừa giao Sở LĐ-TB&XH TP chủ trì, phối hợp các ngành liên quan tiến hành lập kế hoạch kiểm tra đối với 47 đơn vị, doanh nghiệp kinh doanh du lịch, dịch vụ du lịch có sử dụng người lao động nước ngoài nhưng chưa thực hiện đề nghị cấp giấy phép lao động.

Đà Nẵng kiểm tra 47 DN du lịch sử dụng lao động nước ngoài - Ảnh 1.

Sáu tháng đầu năm 2018, các cơ quan chức năng đã phát hiện 23 người nước ngoài có hoạt động điều hành, hướng dẫn khách du lịch trái phép tại TP Đà Nẵng.

Trên cơ sở đó, báo cáo kết quả kiểm tra về UBND TP và đề xuất hướng xử lý đối với các trường hợp vi phạm trong việc sử dụng người lao động nước ngoài theo đúng quy định.

Cạnh đó, UBND TP cũng đề nghị Công an TP chủ trì, phối hợp với các đơn vị, sở, ngành liên quan kiểm tra các đơn vị kinh doanh có sử dụng lao động là người nước ngoài nhưng không thông báo, không thực hiện đúng quy định và các trường hợp người nước ngoài cư trú, làm việc trái phép trên địa bàn TP.

Trước đó, bài toán quản lý lao động người nước ngoài cũng là chủ đề nóng tại buổi làm việc giữa Bí thư Thành ủy Trương Quang Nghĩa và Sở LĐ-TB&XH TP ngày 12-9.

Bà Phan Thị Thúy Linh, Giám đốc Sở LĐ-TB&XH TP Đà Nẵng, cho hay TP hiện có 735 đơn vị, doanh nghiệp (DN) sử dụng lao động nước ngoài với gần 2.000 người. Theo bà Linh, ngày càng có nhiều người nước ngoài đến với TP Đà Nẵng, trong đó có nhiều trường hợp nhập cảnh sai với mục đích của thị thực (visa).

Một số cá nhân, tổ chức người nước ngoài đến TP với mục đích câu kết với người Việt Nam để điều hành các tour du lịch, hướng dẫn viên du lịch hoạt động trái phép . Tuy nhiên, công tác phối hợp giữa các ngành hiện chưa thực sự chặt chẽ, khi có sự cố xảy ra thì việc xử lý còn khó khăn và lúng túng.

Theo thống kê, sáu tháng đầu năm 2018, Sở Du lịch đã phối hợp với Công an TP Đà Nẵng phát hiện 23 người nước ngoài (20 người Trung Quốc, ba người Hàn Quốc) có hoạt động điều hành, hướng dẫn khách du lịch trái phép. Trong đó, cơ quan chức năng xử phạt hành chính 20 trường hợp với tổng số tiền hơn 322 triệu đồng, hủy thị thực buộc xuất cảnh và đưa vào diện chưa cho nhập cảnh 11 trường hợp.

Theo T.An

Pháp luật Tp Hồ Chí Minh

Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể khẳng định đã có tiền để giải quyết bức xúc về dự án cao tốc 34.000 tỷ

Trong phiên họp sáng nay, 1/11, đại biểu Phạm Thị Thu Trang đoàn Quảng Ngãi chất vấn  về Dự án cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi.

Theo đại biểu Trang, dự án được kỳ vọng góp phần nâng cao hạ tầng giao thông, thúc đẩy liên kết trong vùng để tạo động lực kinh tế. Đến ngày 2/9, khi dự án được thông xe toàn tuyến đã tạo niềm vui nhân dân các tỉnh.

Tuy nhiên, đại biểu cho biết cử tri rất bức xúc về tình trạng chậm giải quyết vấn đề giải phóng mặt bằng, đường gom, đường dân sinh chưa hoàn trả, ô nhiễm môi trường cũng như một số vấn đề khác. “Cử tri cũng rất lo lắng về chất lượng của dự án”, đại biểu nhấn mạnh.

Vì vậy, tỉnh đã có những văn bản gửi Tổng công ty Đường cao tốc Việt Nam nhưng chưa được trả lời. Đại biểu theo đó đặt câu hỏi về trách nhiệm Bộ trưởng và giải pháp xử lý bức xúc cử tri.

Trả lời vấn đề này, Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể nói: “Hiện vốn đã có đầy đủ nên có thể làm tất cả các hạng mục liên quan đến dự án”.

Việc sẽ làm ngay, theo Bộ trưởng, là những con đường dùng để đảm bảo giao thông trong quá trình xây dựng, đã có tiền để thực hiện hoàn trả đường công vụ. Trách nhiệm  thực hiện này thuộc về Tổng công ty Đường cao tốc Việt Nam.

Liên quan đến đường gom, công tác giải phóng mặt bằng, Bộ trưởng nhấn mạnh “có tiền” để thực hiện theo tiến độ và đề xuất cơ quan tại các địa phương phối hợp với công ty xây dựng thực hiện. Trong đó, Bộ trưởng nhấn mạnh vào vấn đề giải phóng mặt bằng vì không có mặt bằng, không làm đường gom được.

“Đây là công trình dân sinh phục vụ bà con, nếu thực hiện chậm sẽ ảnh hưởng tiến độ. Tiền có rồi”, Bộ trưởng nói.

Đối với việc nhà dân bị nứt, Bộ trưởng Thể cho biết sẽ được đền bù qua các cơ quan như Sở xây dựng. Ông khẳng định tiền đã có trong dự án, nếu các bên phối hợp đúng, nhanh, tiền sẽ được đưa về dân nhanh nhất.

Bên cạnh đó, phần trả lời chất vấn của Bộ trưởng GTVT đề cập đến dự án cầu Vàm Cống. Đây là câu cầu trọng điểm quốc gia, dùng vốn vay Hàn Quốc với tư vấn thiết kế, giám sát, nhà thầu thi công đều là đơn vị nước ngoài.

Theo Bộ trưởng, khi hoàn chỉnh công trình đã phát hiện một vài yếu tố kỹ thuật liên quan đến chất lương nên đã báo cáo Chính phủ tổ chức đấu thầu quốc tế để xem xét, đánh giá nguyên nhân. Sau khi có kết quả đã trình lên Hội đồng nghiệm thu nhà nước về phương án xử lý.

Hiện các nhà thầu, tư vấn nước ngoài, cụ thể là Hàn Quốc đang thực hiện sửa chữa và sẽ hoàn thành vào cuối năm 2018. Tuy nhiên cây cầu có yếu tố kỹ thuạt cao nên cần đấu thầu tư vấn kiểm định chất lượng toàn bộ công trình. Theo Bộ trưởng, lộ trình sẽ là đầu năm 2019 kiểm định toàn cầu. Đến tháng 6/2019 cầu dự kiến được khánh thành đồng thời cùng đường cao tốc từ cầu Vàm Cống đến Kiên Giang.

Mạng xã hội không phải ảo mà là thật, chúng ta không nên bỏ trống trận địa này!

Đối với chủ đề đầu tiên là thông tin sai lệch trên mạng xã hội, Bộ trưởng Hùng cho biết đây là câu chuyện toàn cầu, xuất hiện ở cả nước lớn và nước nhỏ với tình trạng ngày càng nặng hơn.

“Chúng ta mới sống trên không gian mạng khoảng chục năm thôi, chưa có nhiều kinh nghiệm, còn đời sống thực thì có kinh nghiệm nhiều nghìn năm rồi”, Bộ trưởng Hùng nói và cho biết có thể áp dụng một số logic trong đời thực vào mạng ảo để xử lý tình trạng trên.

Theo ông, đầu tiên cần định nghĩa tường minh thế nào là thông tin sai. Điều này phải được thực hiện bằng pháp luật, tức phải sửa một số quy định luật pháp.

Tiếp theo Việt Nam cần phải có công cụ giám sát, phân tích đánh giá, “tức là dùng công nghệ”, Bộ trưởng nói.

Một ngày trên mạng xã hội bằng tiếng Việt, Bộ trưởng Hùng cho biết có khoảng 100 triệu thông tin, do vậy, không dùng con người để xử lý được. Hiện Bộ TTTT đã bước đầu xây dựng được trung tâm quốc gia về giám sát an toàn thông tin trên không gian mạng. Trung tâm này có thể đọc được 100 triệu tin/ngày, có phân tích, đánh giá, phân loại.

Tân Bộ trưởng Thông tin Truyền thông: Mạng xã hội không phải ảo mà là thật, chúng ta không nên bỏ trống trận địa này! - Ảnh 1.

Ảnh: Tiến Tuấn. Đồ họa: 7pm

Mặt khác, Bộ trưởng đề cập đến việc cần có công cụ quét rác – là sự kết hợp giữa pháp luật và công nghệ. Ở đây, ông Nguyễn Mạnh Hùng nói rằng cần một đầu mối và đề xuất Chính phủ ra quyết định.

Điểm khó nằm ở các mạng xã hội xuyên biên giới, vì vậy, Bộ trưởng nhận xét cần mạnh tay hơn trong việc yêu cầu các nhà cung cấp tuân thủ pháp luật Việt Nam, đặc biệt là gỡ bỏ thông tin.

“Chúng ta có thể học kinh nghiệm quốc tế, EU và một số nước ASEAN đã làm rồi”, ông nói và nhấn mạnh điều quan trọng nhất là kiên quyết thượng tôn pháp luật, có chế tài xử lý những người đưa tin sai.

“Mạng xã hội không phải ảo mà là thật, chúng ta không nên bỏ trống trận địa này. Người dân, chính quyền phải sống nhiều hơn trên không gian mạng, khi cái tốt nhiều hơn thì cái xấu sẽ giảm đi”, Bộ trưởng nói.

Đối với vấn đề thứ hai là sim rác, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhận xét gốc rễ giải quyết nằm ở việc phải có một cơ sở dữ liệu công dân chính xác, từ đó xác định được mối quan hệ giữa người đăng ký với sim điện thoại và gắn vào chứng minh thư.

Tại một số quốc gia, người ta đã cài vào chứng minh thư thông tin ID duy nhất như ảnh, vân tay…

“Vừa qua khi chúng ta chưa làm được thì đã dùng nhiều biện pháp, có tốt đấy nhưng để căn cơ thì phải xây dựng cơ sở dữ liệu công dân, nó không chỉ tốt cho sim rác mà còn cho cả chính phủ điện tử”, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng kết thúc phần phát biểu lần đầu tiên tại Quốc hội.

Vịnh Hạ Long một năm đầu tư 50 tỷ, thu 1.100 tỷ đồng

Đó là thông tin được Bộ trưởng Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch Nguyễn Ngọc Thiện nêu khi trả lời chất vấn trước Quốc hội, sáng 31/10

Trước đó, đại biểu Cầm Thị Mẫn (Thanh Hóa) đề nghị Bộ trưởng cho biết những giải pháp trong thời gian tới để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong việc bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa, lịch sử, tạo ra sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn của các vùng miền để thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế, nhằm đảm bảo phát triển kinh tế gắn với du lịch nhưng phải đáp ứng yêu cầu bảo tồn, phát huy di sản văn hóa.

Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thiện cho biết, di sản văn hóa vật thể trong thời gian vừa qua đã đón được 16 triệu khách, trong đó có 7 triệu khách quốc tế và 9 triệu khách trong nước, thu hơn 2.500 tỷ đồng.

Sau đó Bộ trưởng nêu hàng loạt ví dụ: vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) chỉ riêng tiền bán vé đã thu 1.100 tỷ đồng trong năm 2017. Trong khi đó, ngân sách đầu tư chỉ có 50 tỷ đồng. Di tích cố đô Huế thu 320 tỷ đồng và ngân sách đầu tư 47 tỷ đồng. Khu phố cổ Hội An thu 219 tỷ đồng và ngân sách chỉ đầu tư 17 tỷ đồng. Riêng tiền bán vé, khi khách du lịch đến lưu trú, đi lại tham quan ăn uống …  gấp rất nhiều lần mà đầu tư lại rất ít, Bộ trưởng phân tích.

Theo Bộ trưởng, nếu như quan tâm đầu tư vào di sản, coi như một công trình dự án đầu tư bằng ngân sách thì có thể thu hồi vốn rất nhanh, không bị thua lỗ, công trình văn hóa được bảo tồn, không có dự án nào có lãi như thế này. Nhà nước chỉ đầu tư 50 tỷ/năm mà thu hơn 1.000 tỷ, Bộ trưởng nhấn lại con số tại Hạ Long.

Đối với lĩnh vực bảo tồn di sản, đề nghị Quốc hội hết sức quan tâm, vừa góp phần vào bảo tồn nhưng cũng vừa có nguồn thu rất lớn đối với ngân sách, Bộ trưởng nói.

Liên quan đến lĩnh vực của Bộ Văn hoá- Thể thao và Du lịch, trong hai ngày chất vấn, Bộ trưởng Thiện là một trong số các vị đứng lên ngồi xuống khá nhiều lần để trả lời và tranh luận.

Trả lời câu hỏi của đại biểu Nguyễn Quốc Hưng (Hà Nội) về thành lập Quỹ Hỗ trợ phát triển du lịch, ông Thiện khẳng định trách nhiệm đầu tiên và trước hết là của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch phối hợp với các bộ, ngành liên quan như Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp và các bộ, ngành khác.

Đến nay, việc chuẩn bị văn bản đã xong, tất cả các thủ tục đã xong. Chúng tôi đã trình Văn phòng Chính phủ để báo cáo với Chính phủ ký ban hành, Bộ trưởng thông tin.

Về lý do chậm, Bộ trưởng giải thích, Luật Du lịch lần trước cũng có quy định thành lập Quỹ Hỗ trợ phát triển du lịch nhưng sau 10 năm thì cũng không thành lập được quỹ này. Chính vì những vướng mắc như vậy nên quá trình chuẩn bị phải lấy ý kiến của nhiều bộ, ngành và có nhiều ý kiến khác nhau. Phó thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ tổ chức họp hai lần về luật này và cho ý kiến cuối cùng, bây giờ đã trình được Thủ tướng.

Về câu hỏi không có quỹ này thì chương trình xúc tiến quảng bá du lịch có hoạt động không, Bộ trưởng khẳng định là vẫn hoạt động bình thường theo 2 chương trình đó là Chương trình Hành động quốc gia về du lịch và Chương trình Xúc tiến quảng bá du lịch và số tiền một năm là khoảng 50-60 tỷ.

Doanh nghiệp Việt có cơ hội giải phóng lượng tiền mặt lên đến 4 tỷ USD

Theo đánh giá của PwC Việt Nam về hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Việt Nam, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam trong 4 năm qua đang tồn tại nhiều mối lo ngại.

Đơn cử như tỷ suất sinh lời trên vốn sử dụng suy giảm, biên lợi nhuận hạn chế. Nghiên cứu của PwC cho thấy với các chính sách tiền tệ phù hợp và nguồn vốn FDI dồi dào, các doanh nghiệp đã tăng trưởng nhanh qua các năm, đạt mức 6,1% một năm cho giai đoạn 2013-2017.

Nhưng dù con số này phản ánh tốc độ phát triển tốt của nền kinh tế về tổng thể, mức tăng trưởng lợi nhuận trong giai đoạn này của các doanh nghiệp này vẫn ghi nhận ở mức hạn chế. Mặt khác, tỷ suất sinh lời trên vốn sử dụng (ROCE) của các doanh nghiệp suy giảm dù tỷ lệ nợ trên vốn ngày một cao, chủ yếu do gia tăng vay mượn để đầu tư tài sản cố định.

Hay chu kỳ tiền mặt, tức số ngày trung bình doanh nghiệp cần để chuyển đổi nguyên liệu đầu vào thành dòng tiền từ hoạt động đã kéo dài đáng kể. Cụ thể là đã tăng thêm 6 ngày trong vòng 4 năm qua. 

Nguyên nhân, theo PwC là do vốn lưu động sử dụng để tạo ra doanh thu đang ngày một tăng. Tuy nhiên, lượng vốn này chủ yếu xuất phát từ việc vay mượn, hơn là từ lượng tiền được giải phóng tiền qua các nỗ lực cải thiện hoạt động nội tại.

PwC đánh giá Việt Nam còn nhiều hạn chế trong quản lý vốn lưu động so với các khu vực quản lý khác.

Cụ thể, các doanh nghiệp Việt Nam có chu kỳ tiền mặt cao hơn các khu vực phát triển như Mỹ, châu Âu từ 10 tới 40 ngày, và hơn các nước trong khu vực châu Á khoảng 15 ngày.

Nguyên nhân chính được PwC chỉ ra là từ sự thiếu hiệu quả trong sử dụng vốn lưu động của các nhóm ngành như kỹ thuật & xây dựng, chăm sóc sức khỏe và hàng tiêu dùng.

Báo cáo PwC cho biết chỉ 6/14 ngành nghiên cứu cải thiện được năng lực quản lý vốn lưu động trong 4 năm qua. 

PwC cho biết tồn đọng trong vốn lưu động thuần của các doanh nghiệp nghiên cứu vào khoảng 10 tỷ USD. Cơ hội giải phóng tiền mặt, theo PwC lên tới 40% giá trị tồn đọng trên, tức khoảng 4 tỷ USD, nếu các doanh nghiệp này đạt được chu kỳ tiền mặt của nhóm 25% doanh nghiệp đứng đầu hiệu quả sử dụng vốn lưu động tối ưu.

Các nhóm ngành như kỹ thuật & xây dựng, hàng tiêu dùng và kim loại & khai khoáng có lượng tiền mặt tồn đọng trong vốn lưu động lớn nhất và cũng là nhóm sở hữu cơ hội giải phóng tiền mặt nhiều nhất, chiếm khoảng 50% tổng giá trị ước tính.

“Chuỗi cung ứng chưa hiệu quả, cùng với sự thay đổi không ngừng nghỉ của môi trường và phương thức giao dịch, đi kèm với các giải pháp thanh toán tài chính chưa được tối ưu hóa là những lí do quan trọng nhất dẫn tới sự tụt hậu trong hoạt động quản lý vốn lưu động từ doanh nghiệp Việt Nam so với các doanh nghiệp khác trong khu vực và trên toàn thế giới”, ông Mohammad Mudasser, Phó Giám đốc, Dịch vụ Tư vấn Quản lý vốn lưu động của PwC Việt Nam nhận xét.

Doanh nghiệp Việt thiệt vì khống chế chi phí lãi vay

Nhiều bất cập, tốn kém hàng trăm tỷ đồng

Trong dự thảo báo cáo gửi Thủ tướng tổng kết 1 năm thực hiện Nghị định 20/2017 (gọi tắt Nghị định 20) quy định về quản lý thuế đối với các công ty có giao dịch liên kết (GDLK) (hiệu lực từ tháng 5/2017), Bộ Tài chính cho biết, đến nay, Tổng cục Thuế đã tiếp nhận 39 công văn kiến nghị của các tập đoàn, doanh nghiệp (DN) lớn.

Theo đó, hầu hết các DN đều kêu gặp khó, nhất là đối với quy định về tổng chi phí lãi vay phát sinh trong kỳ được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) không vượt quá 20% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh cộng với chi phí lãi vay, chi phí khấu hao trong kỳ. Điều này có nghĩa nếu chi phí lãi vay vượt trên mức 20% thì khoản vượt đó không được tính vào chi phí hoạt động của DN.

Đơn cử, Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) cho rằng, nhu cầu đầu tư mới các dự án điện của đơn vị rất lớn, song nguồn vốn tự có không đủ đáp ứng nhu cầu đầu tư nên EVN và các đơn vị vẫn phải tiếp tục huy động nguồn vốn vay trong và ngoài nước.

Bản chất các GDLK giữa EVN và các đơn vị thành viên (các bên liên kết) có tính chất “cho vay lại” được thực hiện theo quy định của Chính phủ và tuân thủ nguyên tắc giá thị trường. Do đó, nếu giới hạn chi phí lãi vay như quy định trên sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tình hình tài chính của EVN và các công ty, gây khó khăn trong cân đối vốn đầu tư của EVN. Cụ thể, số thuế TNDN phải nộp tăng rất lớn như EVN GENCO 1 tăng khoảng 339 tỷ đồng; EVN GENCO 3 tăng khoảng 212 tỷ đồng.

Ông Lê Văn Tuấn, lãnh đạo Tổng Cty lắp máy Việt Nam – LILAMA (Bộ Xây dựng) cũng cho rằng, đơn vị và các doanh nghiệp có quan hệ liên kết đều hoạt động trên lãnh thổ VN, cùng chịu một mức thuế suất thuế TNDN nên không có động cơ chuyển giá nhằm mục đích hưởng lợi về thuế TNDN.

Chờ chỉ đạo từ Chính phủ

Theo Luật sư Trương Thanh Đức (Cty Luật Basico), mục tiêu ban đầu của Nghị định 20 nhằm hạn chế việc chuyển thu nhập của các DN có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đến một DN khác (trong cùng tập đoàn đa quốc gia) tại vùng lãnh thổ/quốc gia có thuế suất thuế TNDN thấp hơn so với Việt Nam để tối đa hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế phải nộp.

Tuy nhiên, đối tượng bị ảnh hưởng nặng nề nhất từ việc khống chế chi phí lãi vay được trừ 20% trên lợi nhuận thuần trước lãi và khấu hao lại là các DN Việt Nam. Đặc biệt, những DN đang đầu tư vào những ngành trọng điểm cần số vốn rất lớn. Như vậy là hoàn toàn trái với mục tiêu ban đầu khi ban hành Nghị định. Hơn nữa, theo ông Đức, các DN trong nước vốn ít, phần lớn phải vay vốn từ các ngân hàng, tổ chức tài chính khác. Đây là phần vốn vay độc lập không thuộc các hoạt động GDLK.

“Căn cứ theo quy định tại Điều 9 Luật Thuế TNDN hiện hành không có quy định về khống chế lãi tiền vay như quy định khoản 3 Điều 8 Nghị định số 20. Theo đó, quy định này tại Nghị định 20 chưa phù hợp với Luật Thuế TNDN hiện hành nên không có cơ sở để thực hiện theo quy định này”, vị luật sư bày tỏ.

Luật sư Trần Xoa, chuyên gia tư vấn thuế, cho rằng: “Cần xem xét lại một số điểm chưa hợp lý trong quy định trên. Đó là không nên tính gộp chi phí lãi vay của bên độc lập vào tỷ lệ khống chế dưới 20% theo quy định. Bên cạnh đó, trường hợp các DN có GDLK nhưng được thành lập theo pháp luật VN không có ưu đãi, có cùng thuế suất thuế TNDN thì dù có vay lẫn nhau cũng không dẫn đến chuyển giá. Do đó có thể không áp dụng cho các đối tượng này”, luật sư Trần Xoa nêu rõ.

“Trên cơ sở các kiến nghị, vướng mắc, Tổng cục Thuế và Bộ Tài chính đã chia làm 2 nhóm vấn đề trong dự thảo gửi xin ý kiến của Thủ tướng”, dự thảo do Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà nêu rõ.

Thấy gì từ môi trường kinh doanh Việt Nam qua bảng xếp hạng Doing Business 2019?

Báo cáo Doing Business 2019 vừa công bố cho biết tổng điểm mà môi trường kinh doanh Việt Nam đạt được là 68,36 điểm, tăng nhẹ 1,59 điểm so với năm 2018. Tuy nhiên, về thứ hạng, vị trí của Việt Nam lại bị đánh tụt bậc. Cụ thể, Việt Nam xếp thứ 69/190 quốc gia và vùng lãnh thổ.

“Bảng xếp hạng năm nay có nhiều thông tin đáng suy ngẫm”, ông Đậu Anh Tuấn nói.

Cụ thể, Việt Nam so với chính mình đã có nhiều cải thiện, thể hiện ở việc điểm số của 7/10 chỉ tiêu có tăng như khởi sự doanh nghiệp, cấp phép xây dựng, tiếp cận điện năng, đăng ký tài sản…

Thấy gì từ môi trường kinh doanh Việt Nam qua bảng xếp hạng Doing Business 2019? - Ảnh 1.

“Tuy nhiên, thứ hạng của chúng ta tụt giảm”, ông nhận xét và cho biết bảng xếp hạng cũng có sự tăng hạng mạnh mẽ của nhiều nước, thậm chí ở cả khu vực châu Phi. Điều này có nghĩa là Việt Nam dù đi đúng hướng với những cải cách, thay đổi tích cực nhưng chưa bằng các nước.

Doing Business 2019 ghi nhận Việt Nam có 3 cải cách, nghĩa là giảm 2 cái so với năm 2017. Trong khi đó, Trung Quốc ghi nhận 7 cải cách, là nền kinh tế có số cải cách cao thứ hai trong báo cáo. 

Hay như Malaysia, một nước trong ASEAN, đứng thứ 15 trong bảng xếp hạng, đã thực hiện 6 cải cách, trong đó giúp thành lập doanh nghiệp nhanh hơn nhờ sử dụng hệ thống đăng ký thuế hàng hoá và dịch vụ trực tuyến. Nước này cũng giúp việc chuyển giao tài sản trở nên đơn giản hơn bằng cách thực hiện nền tảng một cửa trực tuyến để tìm kiếm tài sản.

“Những nước đứng đầu trong khu vực ASEAN cũng có sự thay đổi, chính vì vậy, Việt Nam cần năng động hơn nữa”, ông Tuấn nhấn mạnh.

Mặt khác, phân tích sâu hơn vào các chỉ tiêu, ông Tuấn cho biết một số lĩnh vực của Việt Nam đã được World Bank đánh giá cao. Trong đó phải kể đến chỉ số khởi sự doanh nghiệp và tiếp cận điện năng, lần lượt tăng hạng là 19 và 37 bậc.

Thấy gì từ môi trường kinh doanh Việt Nam qua bảng xếp hạng Doing Business 2019? - Ảnh 2.

“Đây là điểm sáng vì trong nhiều năm liền, khởi sự kinh doanh không được đánh giá cao hay có cải thiện đáng kể”, ông nhận xét. Dù vậy, thứ hạng này vẫn cần rất nhiều cải thiện.

Việt Nam hiện có số lượng doanh nghiệp bình quân đầu người thuộc dạng thấp so với thế giới. Chính phủ đã đặt mục tiêu đến năm 2020 có 1 triệu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả nhưng các thông tin gần đây cho thấy mục tiêu này rất khó đạt được nếu không có nhiều quyết tâm, nỗ lực hơn nữa.

“Cái tốt của chỉ số khởi sự kinh doanh ở đây là thủ tục đăng ký kinh doanh. Nhưng để gia nhập thị trường, doanh nghiệp cần nhiều thứ hơn”, ông Đậu Anh Tuấn nhấn mạnh và cho biết nhiều Bộ ngành vẫn còn tâm lý đối phó, chỉ đảm bảo chứ chưa thực sự nỗ lực cải cách như Chính phủ mong muốn.

Bên cạnh những vấn đề trên, ông Tuấn cho rằng cần tiếp tục thúc đẩy việc minh bạch, công khai thông tin.

“Quan sát các năm vừa qua, tôi thấy rằng những giải pháp liên quan đến minh bạch, công khai đều được đánh giá cao, tác động rất tích cực đến hoạt động kinh doanh”, ông nhận xét.

Cụ thể như việc công khai hoá các bản án đã giúp chỉ số thực thi hợp đồng được cải thiện hay minh bạch thông tin trên cổng đăng ký kinh doanh cũng giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí, giảm nhũng nhiễu.

“Người dân, doanh nghiệp với chính quyền cần được tương tác nhiều hơn qua mạng. Do vậy, định hướng Chính phủ điện tử cần được thúc đẩy hơn”, ông Đậu Anh Tuấn đề xuất.