Làm gì để chống thất thu thuế?

Làm gì để chống thất thu thuế?

Phan Minh Ngọc

(TBKTSG) – Cục Thuế TPHCM mới đây cho biết tính đến ngày 31-8-2018, nợ thuế trên địa bàn là 27.631 tỉ đồng, tăng tới 16,45% so với cuối năm 2017. Trong số này, nợ khó thu là 10.181 tỉ đồng, chiếm gần 40% tổng nợ thuế, tập trung vào loại thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp…

Làm thủ tục thuế tại Cục Thuế TPHCM. Ảnh: MINH TÂM

Không rõ tốc độ tăng nợ thuế và tỷ lệ nợ thuế khó thu trong những năm trước ra sao, nhưng điều chắc chắn là tốc độ tăng tới 16,45% trong vòng có tám tháng là tốc độ cao một cách bất thường trong bối cảnh kinh tế vẫn đang tăng trưởng mạnh.

Ngoài sự bất thường, những con số vắn tắt trên còn gián tiếp cho thấy sự không hiệu quả trong việc thu thuế mà ẩn đằng sau nó là khả năng có những hành vi sai trái của (cán bộ) ngành thuế trong việc quản lý thuế, bất chấp đủ loại nỗ lực, quyết tâm với giải pháp mà ngành này đã và đang thực thi.

Không phải tìm đâu xa nguyên nhân gây ra nợ thuế lớn, ít nhất trên địa bàn TPHCM. Cũng theo Cục Thuế TPHCM, những khoản nợ thuế lớn hầu hết là của các doanh nghiệp bất động sản, mà chỉ riêng năm doanh nghiệp được liệt kê “làm ví dụ” đã có tổng số nợ thuế lên đến 1.262 tỉ đồng(1).

Như vậy, việc để những kẻ “có tóc” – những doanh nghiệp bất động sản – nợ (đọng) thuế vừa cho thấy rõ đâu là nguyên nhân chính đằng sau những con số nợ thuế, vừa cho thấy một điều khó có thể chấp nhận được là dường như ngành thuế đang chấp nhận sống chung với chuyện nợ thuế.

Còn trong ngành hải quan của thành phố, thất thu thuế được đại diện ngành này cho là do tình hình buôn lậu, gian lận thương mại diễn biến phức tạp, chẳng hạn những gian lận thương mại lợi dụng chính sách thông quan thông thoáng (thông quan theo luồng xanh, vàng, đỏ…), gian lận trong kê khai trên hệ thống thông quan điện tử VNACCS, gian lận trong xuất nhập khẩu hàng hóa thuộc danh mục cấm, hoặc gian lận trong khai báo thông tin sai về hàng hóa…

Nên nhớ rằng mục đích cho ra đời những chính sách và hệ thống như thông quan thông thoáng và VNACCS không phải là để đánh đổi sự thông thoáng về thủ tục hải quan lấy tệ nạn và gian lận thương mại gia tăng. Và cũng nên lưu tâm rằng dù là luồng xanh, vàng hay đỏ thì cũng đều được giám sát bởi con người – cán bộ hải quan. Hơn nữa, việc phân luồng này cũng chẳng phải chỉ có ở Việt Nam mà còn được áp dụng ở nhiều nước khác.

Tương tự như vậy là những gian lận liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa thuộc danh mục cấm hay thông tin về hàng hóa. Đã đặt ra những danh mục cấm, những biểu thuế khác nhau theo xuất xứ hay loại hàng hóa thì ngành hải quan phải có biện pháp kiểm tra, giám sát tương ứng để đề phòng, ngăn chặn những hành vi gian lận.

Nói cho công bằng, không thể phủ nhận có những lý do ít nhiều mang tính khách quan không thuộc sự kiểm soát của ngành thuế và hải quan, gây ảnh hưởng xấu đến thu ngân sách. Chẳng hạn, một số (chi) cục thuế địa phương phàn nàn tình trạng “doanh nghiệp và nhà thầu không chịu trách nhiệm nên không chấp nhận trả nợ thuế”(?); việc phối hợp giữa Tổng cục Thuế với Tổng cục Cảnh sát “chưa đạt yêu cầu, chưa phối hợp tích cực để xử lý các hành vi trốn thuế, gian lận thuế”, theo đó cần “xem xét sửa đổi Bộ luật Hình sự, đưa nội dung nợ thuế, bỏ trốn vào quy định của luật”; và chưa có ủy nhiệm thu, thu thuế điện tử (với khu vực cá thể)(2). Nhìn chung, những lý do này trong chừng mực nào đó là sự thật nhưng suy cho cùng cũng đều có nguyên nhân chủ quan, tại con người, vẫn trong phạm vi và khả năng giải quyết của ngành thuế, nếu thực sự “quyết liệt” muốn làm (kể cả chuyện sửa luật nếu có thể làm cho các cơ quan làm luật bị thuyết phục).

Một lý do hay được ngành thuế phàn nàn nữa là chuyện khó thu thuế dịch vụ cung cấp bởi các công ty đa quốc gia như  Facebook, Google, Amazon, Airbnb, Grab, Uber, Agoda hay Traveloka… vì một mình ngành thuế không làm được(3). Điều này có thể là đúng. Và có thể cũng đúng rằng “việc thu thuế các mô hình này không chỉ Việt Nam gặp khó mà rất nhiều quốc gia lúng túng”. Ngành thuế Việt Nam có thể và nên học hỏi kinh nghiệm nhiều nước và khu vực đã tìm ra được cách đánh thuế lên những công ty đa quốc gia này(4). Việc áp dụng các phương cách của nước ngoài hoặc phối hợp song phương và đa phương với các nước để đánh thuế các công ty đa quốc gia có thể cần thiết phải sửa đổi một số luật tại Việt Nam. Ngành thuế chính là nơi có trách nhiệm nghiên cứu, tham mưu và đề xuất những sửa đổi cần thiết này. 

(1) https://thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/bat-dong-san-no-thue-nhieu-nhat-1012560.html

(2) http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/thue-voi-cuoc-song/2018-07-20/nganh-thue-ca-nuoc-no-luc-hoan-thanh-nhiem-vu-thu-ngan-sach-60088.aspx

(3) https://news.zing.vn/thu-thue-google-facebook-grab-uber-mot-minh-cuc-thue-lam-khong-noi-post811251.html

(4) https://www.thesaigontimes.vn/266336/Xu-ly-tinh-trang-ne-thue-cua-cac-cong-ty-da-quoc-gia.html

Đến 31-12-2017, nợ thuế giảm 2,8% (2.108 tỉ đồng) so với thời điểm 31-12-2016, tuy nhiên tổng số dư nợ thuế còn lớn, khoảng 73.145 tỉ đồng. Kết quả kiểm toán chín tháng năm 2018 đối với niên độ năm 2017 cho thấy so với năm 2016, tổng số nợ đọng thuế tại 24 địa phương được kiểm toán tăng 4.472 tỉ đồng, trong đó 14/24 địa phương nợ thuế có khả năng thu tăng 3.537,4 tỉ đồng; 22/24 địa phương có số nợ thuế khó thu tăng 1.410,7 tỉ đồng; và 12/24 địa phương báo cáo nợ đọng thuế không chính xác, Kiểm toán Nhà nước xác định tăng 1.683 tỉ đồng so với báo cáo của đơn vị. Ngoài ra, theo báo cáo của Chính phủ, đến 31-8-2018, tổng số nợ thuế còn lớn, khoảng 82.800 tỉ đồng, tăng 13,3% so với thời điểm 31-12-2017, trong đó nợ thuế đến 90 ngày và trên 90 ngày (có khả năng thu) khoảng 48.000 tỉ đồng, tăng 15,2% và nợ thuế không có khả năng thu khoảng 34.800 tỉ, tăng 10,6%. Do vậy, đề nghị Chính phủ có giải pháp hiệu quả hơn trong công tác thu hồi và quản lý nợ thuế.

(Theo báo cáo số1476 /BC-KTNN ngày 10-10-2018 của Kiểm toán Nhà nước về “Ý kiến về đánh giá tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2018, dự toán ngân sách nhà nước năm 2019 và phân bổ ngân sách trung ương năm 2019”)

 

laodong